
Anh Dương Văn Thành hướng dẫn công nhân cách chăm sóc giun quế đúng quy trình.
Hiện gia đình anh Thành duy trì đàn bò vỗ béo khoảng 80 con. Ngay cạnh khu chuồng bò là khu nuôi trùn quế rộng khoảng 600m², cùng hệ thống bể chứa và xử lý chất thải làm thức ăn cho trùn. Từ nguồn phân bò tưởng như chỉ là chất thải phải xử lý, anh đã tận dụng làm nguyên liệu cho một quy trình sản xuất mới. Anh Dương Văn Thành cho biết, Trước đây, khi quy mô đàn bò ngày càng tăng, lượng phân thải ra mỗi ngày cũng nhiều hơn. Nếu không xử lý tốt sẽ vừa mất vệ sinh, vừa lãng phí. Tôi nghĩ cách tận dụng nguồn phân này để nuôi trùn, vừa giải quyết được chất thải, vừa có thêm thu nhập”. Ban đầu, anh tự tìm hiểu kỹ thuật, thử nghiệm cách nuôi và điều chỉnh từng khâu cho phù hợp với điều kiện thực tế của gia đình. Thay vì đầu tư khay, chậu hoặc xây bể nuôi tốn kém, anh chọn cách nuôi trùn trực tiếp trên nền đất. Điểm khác trong cách làm của anh là phía dưới luống nuôi được lót một lớp lưới để hạn chế trùn chui xuống đất, phía trên phủ lớp chất nền phù hợp. Theo anh Thành, cách này thuận lợi cho việc thoát nước khi trời mưa, đồng thời giúp giữ độ ẩm và ổn định nhiệt độ trong luống nuôi vào những ngày nắng nóng. Trong quá trình nuôi, anh đặc biệt chú trọng khâu xử lý thức ăn và môi trường. Chế phẩm sinh học EM được sử dụng định kỳ, khoảng 2-3 ngày/lần, nhằm giảm mùi, hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ và tạo môi trường phù hợp cho trùn phát triển.
Nguồn thức ăn cho trùn được lấy chủ yếu từ chất thải của đàn bò. Để có nguồn phân phù hợp, anh Thành chú trọng ngay từ khâu chăm sóc bò. Mỗi con bò vỗ béo được cung cấp khoảng 7-8kg rơm, 6kg cám và 5kg bã đậu mỗi ngày. Chuồng trại được phun dung dịch EM2 định kỳ khoảng 2 ngày/lần để xử lý môi trường.

Trại nuôi trùn quế của anh Thành cung ứng hàng trăm tấn phân trùn quế mỗi năm
Sau thời gian thử nghiệm, mô hình nuôi trùn quế của gia đình anh Thành từng bước đi vào ổn định. Sản phẩm làm ra gồm trùn quế sinh khối, phân trùn tươi và các sản phẩm phân trùn quế đã qua chế biến. Hiện anh đã liên kết với Công ty Phân bón Việt Nhật để tiêu thụ phân trùn quế. Bên cạnh đó, anh cung cấp trùn giống, hỗ trợ kỹ thuật cho những hộ có nhu cầu phát triển mô hình. Giá bán trùn quế sinh khối khoảng 15.000 đồng/kg. Theo tính toán của gia đình, doanh thu từ bán sinh khối trùn và phân trùn tươi đạt khoảng 650 triệu đồng mỗi năm, lợi nhuận sau khi trừ chi phí khoảng 400-450 triệu đồng. Đây là khoản thu đáng kể, nhất là khi nguyên liệu chính được tận dụng từ chính hoạt động chăn nuôi của gia đình.
Không bằng lòng với việc chỉ bán sản phẩm thô, anh Thành tiếp tục đầu tư máy móc để sản xuất phân trùn quế dạng viên nén. Sản phẩm được giới thiệu và tiêu thụ thông qua các kênh mạng xã hội, từng bước mở rộng thêm thị trường. Theo anh, việc chế biến sâu giúp sản phẩm thuận tiện hơn trong vận chuyển, bảo quản và tiếp cận nhiều nhóm khách hàng. Nguồn thu từ trùn quế hiện chiếm khoảng 70% tổng thu nhập của gia đình, trong khi chăn nuôi bò chiếm khoảng 30%. Với một hộ duy trì đàn bò lên tới 80 con, tỷ lệ này cho thấy giá trị kinh tế mà mô hình nuôi trùn quế mang lại.
Không chỉ tập trung phát triển kinh tế gia đình, anh Thành còn hướng tới việc chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ các hộ nông dân khác cùng làm. Những hộ có nhu cầu nuôi trùn được anh cung cấp con giống, hướng dẫn cách chuẩn bị chất nền, xử lý thức ăn và chăm sóc đàn trùn.
Từ thực tế chăn nuôi của gia đình, anh Dương Văn Thành đã từng bước tìm ra cách làm phù hợp, tận dụng nguồn phân bò để nuôi trùn quế, vừa giảm chi phí xử lý chất thải, vừa tạo thêm sản phẩm và thu nhập. Hiệu quả của mô hình đến từ sự chịu khó tìm hiểu, mạnh dạn thử nghiệm và kiên trì điều chỉnh trong quá trình sản xuất.
Cách làm của anh là kinh nghiệm thực tế để hội viên nông dân trên địa bàn tham khảo, nhất là trong việc tận dụng nguồn lực sẵn có, lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện gia đình và chủ động tìm hướng nâng cao thu nhập.
Phòng VH - XH